Giáo viên hướng dẫn làm đề thi chuyên Ngữ văn THPT KHXH&NV

Giáo viên hướng dẫn làm đề thi chuyên Ngữ văn THPT KHXH&NV Giáo viên hướng dẫn làm đề thi chuyên Ngữ văn THPT KHXH&NV
VOV.VN - Cô Trịnh Thu Tuyết cho rằng đề thi Ngữ văn THPT chuyên Khoa học xã hội và nhân văn khá ấn tượng, giúp tìm học trò yêu văn chương, cá tính và sâu sắc.

Sáng nay (13/7), thí sinh dự thi THPT chuyên Khoa học xã hội và Nhân văn làm bài thi chuyên môn Ngữ văn. 

Đề thi gồm 2 câu: nghị luận xã hội 4 điểm, nghị luận văn học 6 điểm.

Trong đó, câu nghị luận xã hội hỏi: “Phải chăng lắng nghe người khác là đánh mất cơ hội thể hiện bản thân mình”.

Phần nghị luận văn học đưa ra một câu viết của nhà thơ Xuân Quỳnh: “ Thơ đối với cuộc sống ví như một người con gái đối với gia đình, cái để cho người ta làm quen là nhan sắc, nhưng cái để sống với nhau lâu dài lại là đức hạnh”. Từ trải nghiệm văn học của bản thân, em hãy bàn luận ý kiến trên.

giao vien huong dan lam de thi chuyen ngu van thpt khxh&nv hinh 1
 

Trao đổi về đề thi này, TS Trịnh Thu Tuyết, nguyên giáo viên môn Ngữ văn trường THPT Chu Văn An (Hà Nội) cho rằng: "Đề thi Ngữ văn THPT chuyên Khoa học xã hội và Nhân văn năm 2020 đã có một sự ra mắt an toàn và tương đối ấn tượng với hai câu nghị luận xã hội và nghị luận văn học không mới nhưng vẫn có thể giúp tìm những học trò yêu văn chương, cá tính và sâu sắc. Trong tương lai, chúng ta vẫn hi vọng đón đợi những đề thi tuyển sinh hoàn toàn bứt ra khỏi lối mòn, từ cấu trúc tới vấn đề"...

Cô Trịnh Thu Tuyết cho rằng, về cấu trúc, đề thi vẫn theo đúng hướng cấu trúc đề tuyển sinh môn Ngữ văn chuyên của các tỉnh, thành phố nói chung và các khối chuyên Hà Nội nói riêng, đó là cấu trúc 4/6 dành cho hai câu hỏi nghị luận xã hội và nghị luận văn học.

giao vien huong dan lam de thi chuyen ngu van thpt khxh&nv hinh 2
Cô Trịnh Thu Tuyết cho rằng đề thi Ngữ văn chuyên THPT chuyên Khoa học xã hội và nhân văn tương đối ấn tượng, giúp chọn được những thí sinh thực sự say mê môn Văn. 

Theo cô Tuyết, câu Nghị luận xã hội được chú ý bởi sự ngắn gọn, hàm súc, bởi cách đưa vấn đề nghị luận ngay trong yếu tố lệnh của cùng một cấu trúc câu nghi vấn:“Phải chăng lắng nghe người khác là đánh mất cơ hội thể hiện bản thân?”; và quan trọng nhất, đương nhiên là bản thân vấn đề nghị luận với hai phạm trù có thể bị coi là đối lập, thậm chí loại trừ nhau:“lắng nghe người khác” và “thể hiện bản thân”. “Lắng nghe người khác” thường thể hiện thái độ khiêm nhường, trân trọng, thấu cảm  trong văn hóa ứng xử, tinh thần thực sự cầu thị trong quá trình nhận thức…

"Còn“thể hiện bản thân” lại cho thấy hai khả năng trong tính cách con người, hoặc là sự bộc lộ ý thức khẳng định cái tôi khao khát sống hữu ích cho đời, ý nghĩa cho mình, không chấp nhận thái độ sống nhòa nhạt, vô nghĩa; hoặc là biểu hiện của cách sống vị kỷ, thích phô diễn…

Đề bài đặt hai bình diện trong một câu nghi vấn: “Phải chăng lắng nghe người khác là đánh mất cơ hội thể hiện bản thân?”, đó là cách tạo tình huống thách thức cho học trò khi các em phải tự trả lời câu hỏi đó bằng chính những trải nghiệm khá mỏng so với lứa tuổi các em. Tuy nhiên, thay cho những trải nghiệm cuộc sống, các em có thể vận dụng những hiểu biết trong quá trình học tập, vận dụng năng lực tư duy để phát hiện ra những yếu tố mang tính chất gợi ý, thậm chí định hướng đã hiện hữu ngay trong cấu trúc nghi vấn của đề bài – cụm từ “phải chăng…” thường là tín hiệu gợi mở sự nghi ngờ với phán đoán sau đó; cấu trúc câu định nghĩa:“lắng nghe người khác là đánh mất cơ hội thể hiện bản thân?” có lẽ không khó để những học trò chuyên văn tương lai có thể mơ hồ nhận ra những cảnh báo đồng thời cả về văn hóa ứng xử và sự tỉnh táo của trí tuệ trong quá trình nhận thức", cô Tuyết phân tích.

Cũng theo cô Trịnh Thu Tuyết, câu nghị luận văn học đặt ra những vấn đề quen thuộc của lý luận văn học, đó là chức năng của văn học nói chung, hai phạm trù nội dung – nghệ thuật của thơ nói riêng. Vấn đề tuy quen thuộc nhưng không hề dễ với học trò lớp 9 khi các em phải nhận ra vai trò, giá trị, ý nghĩa của văn chương, của thơ với cuộc sống qua cụm từ tưởng chỉ như một lời dẫn:“Thơ đối với cuộc sống…”; phải giải mã được hai khái niệm “nhan sắc” và “đức hạnh” trong hình ảnh so sánh “Thơ đối với cuộc sống ví như một người con gái đối với gia đình…”; và quan trọng nhất, thí sinh phải thấy được mối quan hệ biện chứng giữa “nhan sắc” và “đức hạnh” của thơ với cuộc sống con người.

"Đây là vấn đề không hề đơn giản với những học trò lớp 9, khi một thời, người lớn cũng còn cực đoan, thiên lệch, chỉ quan tâm tới “đức hạnh” của thơ mà bỏ bê “nhan sắc”; chỉ soi cho bằng ra những thông điệp tư tưởng mà coi nhẹ tiêu chí vẻ đẹp ngôn từ, hình ảnh, nhạc điệu… của thơ, lẫn lộn thơ/vè tuyên truyền với thơ ca nghệ thuật; chỉ lo “tải đạo/ ngôn chí” mà quên tính thẩm mỹ đặc thù của phương tiện chuyên chở…", cô Tuyết nói.

Cô Tuyết cũng gợi ý rằng, thí sinh phải mở rộng được khái niệm “nhan sắc”, đó không hẳn là sự du dương, lấp lánh của ngôn từ, nhạc điệu mà chủ yếu là sự đắc địa trong khả năng biểu đạt, biểu cảm, và vì vậy, đó là một thứ hình thức chứa nội dung; cũng như thế, khái niệm “đức hạnh” không nên giới hạn ở nội dung tư tưởng trong mỗi thời điểm của cuộc sống xã hội, mà phải hướng tới những giá trị mang tính vĩnh hằng, đó là sự tử tế, nhân văn trong tất cả các mối quan hệ của con người với thế giới xung quanh mình.

Từ hai khái niệm đó, thí sinh phải bàn luận được sâu sắc, thấu đáo về mối quan hệ không thể tách rời giữa hình thức và nội dung, khẳng định qua thực tế văn học để thấy không có hình thức nào không chứa nội dung, và đương nhiên cũng không có nội dung nào không thể hiện qua hình thức – sự gắn kết biện chứng ấy sẽ làm nên giá trị của thơ, giúp người đọc vừa mê đắm khi “làm quen”, vừa yêu thương khi “sống với nhau lâu dài”./.

Nguyễn Trang/VOV.VN

Tags :

giáo viên hướng dẫn làm đề thi Văn đề thi Ngữ văn chuyên Khoa học xã hội và nhân văn hướng dẫn làm ăn tuyển sinh lớp 10. ôn thi văn lớp 10
Loading...